Các quy định về đạo đức

Các hướng dẫn về đạo đức xuất bản của tạp chí khoa học giáo dục kỹ thuật

Lời nói đầu

Tạp chí khoa học giáo dục kỹ thuật đăng tải kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học kỹ thuật khác nhau. Ban biên tập tạp chí có trách nhiệm thiết lập và cập nhật thường xuyên các hướng dẫn cho việc lựa chọn và chấp nhận các bản thảo gửi đăng ở tạp chí. Các hướng dẫn này được xây dựng dựa trên phạm vi của tạp chí, quan điểm của ban biên tập về các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng học thuật và cách thức trình bày của các công trình khoa học.

Quy trình xét duyệt bản thảo muốn được chuyên nghiệp thì phải được sự thừa nhận của những người trong giới và của cả xã hội. Một chuẩn mực đạo đức bắt buộc phải được áp dụng trong từng công đoạn của quá trình xét duyệt, liên quan tới tác giả, phản biện, ban biên tập và phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung của ngành nghề và của cả xã hội. Một bộ chuẩn mực đạo đức như vậy sẽ mang lại lợi ích rất lớn về mặt nhận thức cho những người trong giới và cho cả xã hội vì nó ngăn ngừa các hành động phục vụ lợi ích hẹp hòi của các cá nhân liên quan tới quá trình xét duyệt.

Ban biên tập tạp chí trình bày bộ hướng dẫn về đạo đức cho những người tham gia vào việc xuất bản các công trình nghiên cứu khoa học đăng trên tạp chí, cụ thể là biên tập viên, tác giả và nhà phản biện. Bộ hướng dẫn này được đưa ra không phải để giải quyết ngay lập tức hành vi trái đạo đức của các bên liên quan trong quá trình xét duyệt, mà là để thuyết phục các bên liên quan phải tuân thủ các chuẩn mực đạo đức rất khắt khe của các tiêu chuẩn quan trọng trong quá trình xét duyệt. Một vài bước trong quá trình xét duyệt quan trọng đến mức cần phải định nghĩa các tiêu chuẩn đạo đức để gửi đến các bên liên quan.

Chúng tôi tin rằng hầu hết các hướng dẫn được đưa ra ở đây đã được hiểu rõ và tuân thủ bởi đa số các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm. Tuy nhiên, chúng có thể giúp ích đáng kể cho những người mới bước chân vào lĩnh vực nghiên cứu. Chúng tôi cũng mong rằng những nhà khoa học đã thành công có thể xem xét thêm những bước nào được coi là quan trọng trong quá trình nghiên cứu cần bổ sung thêm các tiêu chuẩn đạo đức.

Các quy định đạo đức cần tuân thủ

A. Quy định đạo đức đối với tác giả gửi bài:

Tác giả được yêu cầu phải tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức nêu ra bên dưới, nếu vi phạm biên tập viên có thể tạm ngừng xem xét bản thảo hoặc rút bài báo đã được xuất bản xuống.

  1. Trách nhiệm quan trọng nhất của tác giả là trình bày báo cáo một cách chính xác và đầy đủ nhất về công trình nghiên cứu đã thực hiện, tuyệt đối không được gian dối trong việc thu thập hoặc sử dụng dữ liệu, trong việc nêu ra các ý kiến thảo luận khách quan về tầm quan trọng của nghiên cứu. Dữ liệu được định nghĩa là thông tin được thu thập hoặc sử dụng để tạo ra kết luận của nghiên cứu. Bản báo cáo và dữ liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu phải đủ cụ thể và chi tiết kèm theo các trích dẫn đến các nguồn tài liệu đã được công bố để cho phép chuyên gia được đào tạo có thể kiểm chứng các quan sát thực nghiệm bằng cách làm lại chúng.
  2. Tác giả nên biết rằng số lượng trang của tạp chí là có giới hạn và tạp chí phải tốn chi phí lưu trữ rất đáng kể. Vì vậy, tác giả phải có trách nhiệm trình bày bản thảo ngắn gọn súc tích trong phạm vi số trang cho phép. Những thông tin khác, dài và kém quan trọng hơn, tác giả có thể cung cấp dưới dạng thông tin bổ trợ kèm theo và lưu trữ ở nơi có thể truy cập bên ngoài tạp chí.
  3. Khi được yêu cầu, tác giả phải cố gắng hết sức để cung cấp dữ liệu, phương pháp và các mẫu vật của công trình nghiên cứu không có ở bất kỳ nơi nào khác, ví dụ như các vật liệu mới, các loài vi khuẩn, các kháng thể, v.v., cho các nhà nghiên cứu khác, với các thỏa thuận chuyển giao thích hợp để hạn chế phạm vi sử dụng tài liệu nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tác giả. Tác giả được khuyến khích gửi dữ liệu của họ đến một cơ sở dữ liệu chung nếu có thể.
  4. Tác giả nên trích dẫn những ấn phẩm ảnh hưởng đến bản chất của nghiên cứu hiện được công bố và sẽ hướng dẫn độc giả tìm đến các nghiên cứu trước đây một cách nhanh chóng để có nền tảng hiểu được khảo sát hiện đang được thực hiện trong nghiên cứu này. Tác giả nên hạn chế tối đa việc trích dẫn các công bố không liên quan đến các vấn đề được đề cập trong nghiên cứu của mình. Đối với các vấn đề được đề cập trong nghiên cứu của mình, tác giả phải có trách nhiệm tìm bằng được các công trình gốc để trích dẫn và phải trích dẫn đầy đủ. Đối với các nguồn tài liệu quan trọng khác được dùng trong bản thảo, tác giả được yêu cầu phải trích dẫn đúng nguồn dù chúng được cung cấp bởi một người không phải tác giả của tài liệu đó.
  5. Những tính chất độc hại khác thường của các hóa chất, thiết bị hoặc quy trình được sử dụng trong quá trình khảo sát với rủi ro tiềm ẩn cao nên được xác định một cách rõ ràng trong bản thảo với những cảnh báo phù hợp. Tác giả nên báo cho biên tập viên biết là trong bản thảo của mình có thực hiện các khảo sát dựa trên sự hiểu biết của tác giả để cung cấp các kiến thức, sản phẩm hoặc công nghệ cho độc giả mà nếu độc giả không có đủ chuyên môn mà trực tiếp ứng dụng chúng thì sẽ không an toàn và ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, cộng đồng, có hại đến cây trồng, vật nuôi, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường vật chất.
  6. Tác giả nên tránh việc chia nhỏ các kết quả nghiên cứu để đăng được nhiều bài. Một nhà khoa học khi đã hoàn thành các nghiên cứu chuyên sâu trên một hệ thống hay một nhóm các hệ thống liên quan với nhau nên tổ chức xuất bản các kết quả nghiên cứu sao cho mỗi công bố cung cấp thông tin đầy đủ về một khía cạnh cụ thể của đề án nghiên cứu chung. Việc chia nhỏ sẽ làm tiêu tốn không gian (số trang) của tạp chí quá nhiều và làm phức tạp quá mức việc tìm kiếm tài liệu. Độc giả sẽ tiện theo dõi hơn nếu các công bố về các nghiên cứu liên quan được xuất bản trên cùng một tạp chí hoặc chỉ trên một vài tạp chí.
  7. Khi nộp một bản thảo về tạp chí, tác giả nên thông báo cho biên tập viên biết về các bản thảo khác (nếu có) của chính tác giả mà tạp chí xử lý hoặc đang xuất bản. Tác giả nên cung cấp các thông tin cơ bản về các bản thảo đó (tiêu đề, các tác giả, tóm tắt) và mối quan hệ của các bản thảo đó với bản thảo mới nộp về tạp chí.
  8. Tác giả không được phép nộp các bản thảo mô tả gần như cùng một nội dung nghiên cứu tới các tạp chí khác nhau để xuất bản. Trừ phi tác giả rút bài hay bài bị từ chối đăng ở một tạp chí thì mới được phép nộp lại bài ở một tạp chí khác.
  9. Tác giả được khuyến khích đề cử những người phản biện phù hợp khi nộp bản thảo. Tuy nhiên, tác giả không nên đề cử những người thân quen có mối quan hệ lợi ích (dù ít hoặc nhiều). Ngoài ra, tác giả cũng không nên đề xuất những phản biện có mối quan hệ cá nhân hoặc mối quan hệ nghề nghiệp nếu các mối quan hệ này có thể làm ảnh hưởng tới quá trình đánh giá bản thảo.
  10. Tác giả nên xác định nguồn trích dẫn của các thông tin cung cấp trong bản thảo trừ phi các thông tin đó là kiến thức phổ thông mà ai cũng biết. Thông tin thu thập riêng tư, như trong cuộc trò chuyện, thư từ hoặc thảo luận với bên thứ ba, không nên được sử dụng hay công bố trong bản thảo khi không có sự cho phép của họ. Thông tin thu thập trong quá trình cung cấp dịch vụ bảo mật, như việc đánh giá bản thảo hoặc các đề xuất tài trợ nghiên cứu, cũng nên được xử lý tương tự.
  11. Những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đôi khi phê bình nhau rất gay gắt. Những nhà khoa học lý thuyết có thể phản biện các bài thực nghiệm và ngược lại nhưng bài vẫn có thể được chấp nhận đăng. Tuy nhiên, cho dù có phê bình nhau gay gắt về chuyên môn như thế nào đi chăng nữa, thì tác giả và phản biện cũng không nên phê bình cá nhân với nhau.
  12. Các đồng tác giả của một bài báo nên là những người có đóng góp khoa học quan trọng cho bài báo đó, họ cùng có nghĩa vụ và trách nhiệm giải trình các kết quả nghiên cứu. Các đồng tác giả không nên là những người đứng tên trên danh nghĩa mà không có đóng góp gì. Các tác giả nên ghi nhận thích đáng các đóng góp của nhân viên kỹ thuật và chuyên gia phân tích dữ liệu. Các đóng góp khác nên được nêu trong chú thích hoặc phần "Cảm ơn". Sự hỗ trợ của các cấp quản lý đối với việc thực hiện các khảo sát không đủ điều kiện để người quản lý trở thành đồng tác giả (phù hợp hơn thì nên ghi nhận sự hỗ trợ quản trị to lớn của họ đối với bài báo). Những người đã qua đời nhưng đáp ứng điều kiện đồng tác giả (có đóng góp khoa học quan trọng) cũng phải được ghi vào danh sách tác giả của bài báo với một chú thích thông báo ngày mất. Không được liệt kê vào danh sách tác giả một cái tên giả mạo. Tác giả nộp bài phải gửi cho tất cả các đồng tác giả bản thảo và các đồng tác giả phải xác nhận đồng ý làm tác giả của bài báo.
  13. Tác giả liên hệ phải tiết lộ cho biên tập viên và độc giả biết bất kỳ xung đột lợi ích nào của các tác giả (đang có hoặc có thể có) liên quan tới việc xuất bản bản thảo ngay thời điểm nộp bài về tạp chí. Tất cả các tác giả phải công bố: (1) nguồn tài trợ cho nghiên cứu đang được xét duyệt, (2) có hay không việc được nhận tài trợ từ các công ty hay các tổ chức thương mại với nghĩa vụ phải cung cấp kết quả nghiên cứu mang lại lợi ích cho các công ty hay tổ chức đó, (3) các mối quan hệ với đối tác (trong vòng 3 năm) mà các đối tác này có lợi ích tài chính hay các lợi ích khác trong kết quả bản thảo. Các lợi ích khác của đối tác có thể là phí tư vấn, được chứng nhận trở thành chuyên gia, được nhận tiền thưởng, bằng sáng chế. Đối tác ở đây là một các nhân hay là một tập thể. Các lợi ích tài chính sẽ được thể hiện trong bài báo được xuất bản. Tác giả cũng buộc phải tiết lộ cho biên tập viên biết các lợi ích phi tài chính có thể có mà tác giả biết rõ rằng nó sẽ ảnh hưởng đến quá trình phản biện và xuất bản bài báo.
  14. Sự đạo văn không được chấp nhận trong tạp chí Khoa học Giáo dục Kỹ thuật. Đạo văn được hiểu là lấy ý tưởng, quy trình, kết quả hoặc lời nói của người khác mà không thừa nhận rõ ràng đó là cái của họ chứ không phải của mình. Tạp chí chúng tôi sẽ tiến hành kiểm tra đạo văn bằng công cụ iThenticate với ngưỡng chấp nhận là 20%, quy định tại Điều 8, Quyết định số 1047 của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM. Các tác giả không nên thực hiện đạo văn – sao chép y chang hoặc sao chép gần giống với văn bản hoặc đoạn văn kết quả từ công trình của người khác. Các tác giả không nên tiến hành tự đạo văn (nộp bản thảo đã được xuất bản ở nơi khác về tạp chí chúng tôi). Cụ thể là bản thảo nộp về tạp chí không được trùng lặp quá nhiều với các xuất bản hay kết quả nghiên cứu trước đây của chính tác giả mà không khai báo nguồn gốc rõ ràng. Nếu một hoặc hai câu giống hệt với công bố trước đây của chính tác giả xuất hiện trong bản thảo hiện tại, thì bản thảo hiện tại gần như bị kết luận là tự đạo văn. Câu chữ được trích dẫn nguyên si từ công bố trước đây của tác giả phải được đặt trong dấu ngoặc kép “”. Nếu bản thảo hiện tại chứa đựng các đoạn giống hệt nguyên văn hoặc gần như nguyên văn công trình trước đây của tác giả mà không trích dẫn nguồn gốc và coi phát biểu đó là mới thì không thể chấp nhận được.   
  15. Tạp chí Khoa học Giáo dục Kỹ thuật đưa ra các tiêu chuẩn đạo đức bắt buộc đối với các nghiên cứu thực nghiệm có sử dụng các mẫu sinh học lấy từ động vật hoặc con người. Các nghiên cứu như thế này khi nộp về tạp chí chúng tôi phải cung cấp thêm các giấy phép của chính quyền địa phương để đảm bảo động vật được đối xử nhân đạo và đảm bảo quyền con người. Đối với các nghiên cứu liên quan đến con người, tác giả phải cung cấp minh chứng xác nhận rằng mẫu nghiên cứu được thu thập với sự đồng ý của người tặng mẫu hoặc theo giấy phép của chính quyền (hội đồng cấp phép). Tác giả được yêu cầu phải khai báo số đăng ký cấp phép của cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các nghiên cứu về động vật và con người trong phần “Material and Methods” của bản thảo.
  16. Các hình trong bản thảo không được chỉnh sửa sai lệch số liệu (làm đẹp số liệu), phải đảm bảo phản ánh trung thực số liệu thu thập được. Các hình ảnh nêu ra trong bản thảo cần được miêu tả chính xác và trung thực cách thức làm thế nào để tạo ra chúng

B. Quy định đạo đức đối với phản biện:

  1. Vì việc đánh giá bản thảo là một bước quan trọng trong quá trình xuất bản, nên bước này phải được thực hiện một cách khoa học. Mỗi nhà khoa học ai cũng tham gia vào quá trình xuất bản, cũng tham gia đăng bài, vì thế phải có trách nhiệm đưa ra đánh giá của mình đối với các bài báo do các tác giả khác gửi đăng, như thế mới công bằng.
  2. Nếu bạn được lựa chọn làm người phản biện, xin hãy đừng từ chối. Tuy nhiên, người được lựa chọn làm phản biện khi cảm thấy không đủ khả năng để đánh giá công trình nghiên cứu nêu trong bản thảo thì nên nhanh chóng trả nó lại cho biên tập viên.
  3. Người phản biện (đánh giá chất lượng hay chấm điểm bản thảo) nên đưa ra các ý kiến của mình một cách khách quan về chất lượng của bản thảo và thông tin hỗ trợ, bao gồm dữ liệu thực nghiệm và lý thuyết, bao gồm cách trình bày và giải thích và phải dựa theo các tiêu chuẩn học thuật khắt khe khi tiến hành đánh giá. Phản biện nên tôn trọng cách suy nghĩ, cách nhìn nhận độc lập của tác giả về các vần đề trình bày trong bản thảo.
  4. Nếu phát hiện bản thảo có nội dung nghiên cứu gần giống với các bài báo mình đã và đang xuất bản, phản biện nên lưu ý coi có xung đột lợi ích gì không. Nếu nghi ngờ, phản biện nên trả bản thảo về cho ban biên tập và thông báo cho ban biên tập biết về việc xung đột lợi ích giữa phản biện và các tác giả bản thảo, để tránh đưa ra các đánh giá thiên vị hoặc trù dập.
  5. Phản biện không nên đánh giá một bản thảo có người quen là tác giả. Người quen ở đây được hiểu là người có mối quan hệ cá nhân hoặc mối quan hệ nghề nghiệp với phản biện, vì mối quan hệ này có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của quá trình đánh giá chấm điểm bản thảo.
  6. Phản biện được kỳ vọng giữ bí mật trong suốt quá trình thẩm định để có những thảo luận và đánh giá công tâm về hàm lượng khoa học của bài báo. Cho dù bản thảo được chấp nhận đăng hoặc bị từ chối xuất bản, thì phản biện vẫn phải giữ bí mật trong suốt quá trình bình duyệt, từ lúc nhận bài về để phản biện cho đến lúc ban biên tập đưa ra quyết định cuối cùng về bản thảo. Cụ thể như sau:
    1. Phản biện nên đề cao sự bảo mật khi nhận bản thảo và số liệu từ tạp chí, các bản báo cáo đánh giá của các phản biện, các bản thảo chỉnh sửa của tác giả và các thông tin liên quan khác. Phản biện không nên tiết lộ hoặc thảo luận những nội dung này hay các tài liệu này với bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào.
    2. Nhằm mục đích đào tạo, phản biện được phép sử dụng đồ đệ của họ thay họ làm phản biện bản thảo. Những đồ đệ này có thể là một sinh viên tiến sĩ hay sau tiến sĩ. Tạp chí chúng tôi cho phép điều đó với điều kiện phản biện (i) phải truyền đạt thông tin rõ ràng cho đồ đệ biết là phải bảo mật khi phản biện bản thảo (ii) phải đọc lại và phê duyệt bản báo cáo đánh giá của đồ đệ trước khi nộp cho biên tập viên (iii) phải tiết lộ cho biên tập viên biết tên của đồ đệ đã giúp mình phản biện bản thảo.
    3. Phản biện có thể tiết lộ công khai rằng mình cũng đang là phản biện của một tạp chí nào đó, nhưng không được tiết lộ rằng mình là người đã phản biện hoặc đang phản biện một bài báo cụ thể nào đó.
    4. Trong một số trường hợp thật đặc biệt, phản biện có thể muốn tiết lộ danh tính của họ cho tác giả biết vì lý do khoa học chính đáng nào đó. Muốn vậy, phản biện phải xin sự chấp thuận từ biên tập viên. Biên tập viên có quyền đồng ý hoặc từ chối yêu cầu này của phản biện. Tuy nhiên, nếu từ chối biên tập viên phải đưa ra lời giải thích hợp lý.
  7. Phản biện nên giải thích đầy đủ và cung cấp trích dẫn khi đưa ra nhận xét của họ về bản thảo để biên tập viên và tác giả có thể hiểu rõ căn cơ của những nhận xét ấy. Bất kỳ một phán xét nào về một quan sát, môt suy luận hoặc luận điểm đã được công bố nên được đính kèm trích dẫn liên quan. Những lời phán xét của phản biện (hay lời phúc đáp bất tuân của tác giả) không kèm theo trích dẫn sẽ không có nhiều giá trị và không nên đưa ra.
  8. Phản biện nên chú ý cảnh báo việc tác giả không trích dẫn đầy đủ các nghiên cứu liên quan của những nhà khoa học khác. Phản biện cũng lưu ý rằng lời phàn nàn của phản biện về việc bản thảo tại sao không trích dẫn hoặc trích dẫn không đầy đủ các nghiên cứu liên quan được công bố bởi phản biện sẽ dễ bị hiểu nhầm là phục vụ tư lợi cho phản biện, vì thế phản biện nên tránh đưa ra những lời phàn nàn như thế.
  9. Phản biện nên nhanh chóng hoàn thành việc đánh giá bản thảo và gửi kết quả phản biện cho biên tập viên đúng thời hạn. Phản biện khi nhận được bản thảo trong khoảng thời gian quá bận rộn thì một là nhanh chóng trả lại cho biên tập viên, hai là thông báo cho biên tập viên biết không thể hoàn thành đúng hạn và đề xuất gian hạn thêm một khoảng thời gian thích hợp.
  10. Phản biện không nên sử dụng hoặc tiết lộ những thông tin, những lập luận, những diễn giải có trong bản thảo đang xét duyệt, trừ phi được sự đồng ý của tác giả..
  11. Khi đánh giả bản thảo, phản biện đôi khi có thể đưa ra những lời phê bình chỉ trích, thậm chí rất gay gắt. Những lời phê bình gay gắt như thế, nếu thích hợp vẫn có thể xuất hiện trong các bài báo được xuất bản. Tuy nhiên, phản biện không nên phê bình, chỉ trích cá nhân tác giả.
  12. Phản biện nên thông báo cho biên tập viên biết về các quan ngại liên quan đến các kết quả của bản thảo có cung cấp các kiến thức, sản phẩm hoặc công nghệ cho độc giả mà nếu độc giả không có đủ chuyên môn mà trực tiếp ứng dụng chúng thì sẽ không an toàn và ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, cộng đồng, có hại đến cây trồng, vật nuôi, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường vật chất.

C. Quy định đạo đức đối với biên tập viên tạp chí:

  1. Biên tập viên nên xem xét một cách khách quan tất cả các bản thảo gửi về tạp chí, đánh giá từng bản thảo dựa trên giá trị của nó mà không quan tâm đến chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, giới tính, thâm niên nghiên cứu hoặc cơ quan công tác của tác giả. Tuy nhiên, biên tập viên có thể xem xét mối quan hệ của bản thảo hiện tại với các bản thảo khác của cùng tác giả đã được gửi đăng hoặc đang được gửi đăng ở tạp chí.
  2. Biên tập viên nên xử lý các bản thảo gửi đăng ở tạp chí với tốc độ đúng như công bố.
  3. Biên tập viên là người duy nhất chịu trách nhiệm về việc chấp nhận hoặc từ chối môt bản thảo gửi về tạp chí. Biên tập viên cần phải thận trọng để đưa ra một quyết định có tính thuyết phục bằng cách dựa vào các ý kiến đánh giá của ít nhất hai người phản biện. Bởi vì người phản biện là các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu của bản thảo, nên các đánh giá của họ rất có chất lượng và đáng tin cậy. Tuy nhiên, các bản thảo có thể bị từ chối mà không cần gửi phản biện nếu biên tập viên xét thấy không thích hợp với tạp chí. Việc từ chối như vậy có thể do lĩnh vực nghiên cứu của bản thảo không thuộc phạm vi đăng bài của của tạp chí, không thu hút được sự quan tâm rộng rãi của độc giả, không cung cấp hàm lượng khoa học đủ để được xuất bản trên tạp chí, chính tả tiếng Anh hay tiếng Việt không thể chấp nhận được, hoặc các lý do khác.
  4. Khi biên tập viên, với trách nhiệm đưa ra quyết định của mình, quyết định cung cấp các đánh giá về các kết quả nghiên cứu của bản thảo mà họ chịu trách nhiệm xử lý, họ nên công khai thảo luận với ban biên tập về quyết định cuối cùng và không dùng chiêu bài của một phản biện kín để đưa ra quyết định mà không công khai danh tính của mình.
  5. Ban biên tập không nên tiết lộ cho bất cứ ai bất kỳ thông tin nào về bản thảo đang được xem xét ngoại trừ hai phản biện. Tuy nhiên, một biên tập viên khi được phân công xử lý thêm các bài báo khác gửi về tap chí, nếu thấy có sự liên quan giữa bài báo hiện tại và bài báo đó thì có thể tiết lộ cho tác giả bài báo có liên quan biết để tham vấn về việc xung đột lợi ích giữa tác giả của các bài báo liên quan này.
  6. Biên tập viên nên tôn trọng sự độc lập trong cách nghĩ và cách tư duy của tác giả.
  7. Một biên tập viên khi viết bài nộp vào tạp chí do mình làm biên tập, thẩm quyền và trách nhiệm biên tập bài báo đó nên được chuyển giao cho một biên tập viên khác hoặc thành viên hội đồng tư vấn đủ năng lực khác trong ban biên tập. Biên tập viên cũng nên chuyển giao các bản thảo nộp bởi sinh viên, người cộng tác hay đồng nghiệp (trong vòng ít nhất 3 năm trước đó) của họ cho một người khác có đủ năng lực để làm biên tập hay cho một thành viên của hội đồng tư vấn biên tập của tạp chí. Nếu biên tập viên xem xét các bản thảo do người quen của mình nộp về tạp chí, ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng bởi lợi ích cá nhân và điều đó là không đúng.
  8. Biên tập viên không nên khai thác các thông tin, các lập luân, các giải thích của bản thảo nộp về để sử dụng cho các nghiên cứu của chính mình trừ phi được sự đồng ý của tác giả bản thảo đó. Tuy nhiên, nếu các nghiên cứu của biên tập viên không mang lại lợi ích cho tác giả mà họ đã khai thác các thông tin trong bài báo nộp về tạp chí, thì về mặt đạo đức biên tập viên không nên tiếp tục việc này. Khi một bản thảo nộp về tạp chí liên quan mật thiết đến nghiên cứu hiện tại hoặc trước đó của một biên tập viên dẫn đến việc tạo ra xung đột lợi ích, biên tập viên nên sắp xếp một người có đủ năng lực khác để biên tập bản thảo này thay mình. Trong một số trường hợp, biên tập viên có thể thông báo cho tác giả biết kế hoạch nghiên cứu của mình trong lĩnh vực đó.
  9. Nếu một biên tập viên nêu ra được bằng chứng thuyết phục rằng nội dung chính hay kết luận chính của một bài báo xuất bản trong tạp chí có sai sót, biên tập viên nên khuyến kích tác giả xuất bản một thông tin đính chính do chính tác giả hay người phát hiện sai sót soạn.
  10. Tác giả có thể yêu cầu biên tập viên không mời một người phản biện nào đó cho bản thảo của mình. Tuy nhiên, biên tập viên có thể quyết định mời họ hay không là quyền của biên tập viên. Khi biên tập viên xét thấy ý kiến của họ quan trọng trong việc xem xét bản thảo một cách công bằng thì có quyền mời, đặc biệt trường hợp bản thảo trưng ra các kết quả trái ngược với các kết quả nghiên cứu trước đây của phản biện này.